Nhìn lại quá trình phát triển của USV
Tàu mặt nước không người
lái (USV) là phương tiện tác chiến không người lái, thông minh, vận hành trên
mặt nước bằng phương thức điều khiển từ xa hoặc tự điều khiển, được máy bay
hoặc tàu lớn chuyên chở, sau khi đến địa điểm dự kiến, có thể trực tiếp sử dụng
gần bờ, phát huy vai trò bảo vệ lực lượng của quân nhà, tiến công đối phương.
USV
được bắt đầu nghiên cứu muộn hơn so với tàu ngầm không người lái và máy bay
không người lái, nhưng đã phát triển nhanh chóng, hiện nay đã được các cường
quốc biển trên thế giới hết sức coi trọng.
Nhìn lại quá trình phát triển của USV
Trong lịch sử phát triển USV, thời điểm xuất
hiện sớm nhất là vào năm 1898. Khi đó nhà sáng chế nổi tiếng Nikola
Tesla đã phát minh ra chiếc tàu thủy điều khiển từ xa mang tên "Người
máy vô tuyến". Lần đầu tiên USV được sử dụng trong thực tiễn tác chiến là
thời kỳ Chiến tranh thế giới lần thứ 2. Ban đầu tàu được thiết kế thành hình
ngư lôi dùng để rà quét thủy lôi và chướng ngại vật. Trong chiến dịch đổ
bộ Normandie, để thực hiện mục đích nghi binh chiến lược và yểm hộ tác
chiến, quân đội đồng minh từng thiết kế một loại USV mang theo một lượng lớn
đạn khói, có thể tự động chạy đến vùng biển nghi binh đã được xác định, từ đó
tạo thành hình ảnh giả của biên đội tàu chiến đổ bộ. Vào thời kỳ cuối Chiến
tranh thế giới lần thứ 2, Quân đội Mỹ đã từng thông qua việc lắp đặt trên tàu
đổ bộ cỡ nhỏ thiết bị lái tàu vô tuyến điện và đạn rocket quét mìn để tác
nghiệp ở vùng biển nước nông có thủy lôi.
Sau khi kết thúc Chiến tranh
thế giới lần thứ 2, USV tiếp tục phát triển, chủ yếu dùng vào nhiệm vụ rà phá
mìn và đánh giá tổn thương trên chiến trường (BDA), như trong "Hành động
Ngã tư đường" năm 1946, sau mỗi vụ nổ bom nguyên tử, người ta đều sử dụng
USV để thu thập mẫu vùng nước nhiễm phóng xạ.
Đến thập niên 60 Thế kỷ XX, Liên Xô đã sáng chế
được loại USV cỡ nhỏ điều khiển từ xa, dùng để tự động lao vào tàu chiến địch
và phát nổ tự hủy. Trong thời kỳ này, Mỹ đã cải hoán tàu nhỏ bằng thép thủy
tinh dài 7m chạy xăng V-8 thành tàu quét mìn điều khiển từ xa, trang bị
cho phân đội thủy lôi 113 ở phía Nam thành phố Hồ Chí Minh, dùng để tác nghiệp
rà phá mìn ở Việt Nam. Vào thập niên 70 - 80 Thế kỷ XX, do hạn chế về kỹ thuật,
sự phát triển của USV không có đột phá lớn, chủ yếu dùng để diễn tập quân sự và
làm bia trên biển cho pháo binh bắn tập. Đến thập niên 90 Thế kỷ XX, tàu nguyên
mẫu tác chiến rà phá mìn điều khiển từ xa (PMOP) do Mỹ nghiên cứu chế tạo đã
tác nghiệp thành công trên tàu khu trục mang tên Cushing ở biển Ba Tư. Trong
cuộc diễn tập "SHAREM-119" vào tháng 1 - 2/1997, PMOP đã tiến hành
hoạt động rà phá mìn trong 12 ngày.
Cùng với tiến bộ trên các
mặt công nghệ thông tin, kỹ thuật điều khiển tự động, kỹ thuật dẫn đường và
khoa học vật liệu mới, kỹ thuật USV cũng có bước phát triển mới. Tính đến nay
đã có hơn chục nước nghiên cứu chế tạo, triển khai bố trí USV.
Thực trạng phát triển USV
Về tổng thể, USV
đang được nghiên cứu và sử dụng trên thế giới hiện nay có 88 loại, trong đó
đang nghiên cứu 25 loại, đang sử dụng trong biên chế 63 loại, được dùng vào các
nhiệm vụ C4ISR như: Thu thập dữ liệu, truyền thu và trung chuyển thông tin…, hỗ
trợ nhiệm vụ tiến công bằng vũ khí thông thường như rải mìn, tiến công tàu ngầm
tầm xa và các nhiệm vụ phòng ngự như phòng không, chống ngầm, chống thủy lôi,
tác chiến mặt nước mang tính phòng ngự. Sau đây sẽ giới thiệu thực trạng phát
triển USV từ hai phương diện nghiên cứu và sử dụng.
Tình hình cơ bản về USV đang được các nước trên
thế giới nghiên cứu
Mỹ và đồng minh là những nước chiếm đa số trong những
nước đang nghiên cứu chế tạo USV trên thế giới. Các đơn vị đang nghiên cứu chế
tạo trang bị này bao gồm những doanh nghiệp lớn sản xuất vũ khí, phòng thí
nghiệm của các trường đại học và các đơn vị làm nhiệm vụ nghiên cứu trong quân
đội, chủ yếu là các doanh nghiệp sản xuất vũ khí. Các USV đang được nghiên cứu
có sự khác biệt về mức độ hoàn thiện kỹ thuật (TRL), độ dài, tốc độ, khả năng
duy trì tự hành, trình độ tự động hoá, năng lực mang tải có hiệu quả và sức
mạnh động cơ. Về mức độ hoàn thiện kỹ thuật, đa số đã đạt đến trình độ TRL6 và
TRL7, đã được thử nghiệm sản phẩm mẫu trong môi trường có liên quan hoặc trong
môi trường tác chiến thực tế. Về chỉ tiêu độ dài, khả năng duy trì tự hành,
năng lực mang tải hiệu quả và công suất động cơ có liên quan đến độ to nhỏ của
con tàu, phần lớn USV đang nghiên cứu là loại cỡ nhỏ, do tàu cỡ nhỏ có thể tạo
ra ưu thế về giá thành, dễ thử nghiệm, nhưng khi đưa vào sử dụng, kích cỡ con
tàu rất dễ to ra. Về tốc độ hành trình, do đảm nhận các nhiệm vụ tác chiến khác
nhau nên tốc độ cũng chênh lệch khá nhiều.
Tình hình cơ bản về USV đang
trong biên chế sử dụng của các nước trên thế giới
Hiện nay có 63 loại USV đã đưa vào biên chế và
có độ hoàn thiện kỹ thuật đã đạt đến trình độ sử dụng được. Trong đó, số USV
được dùng trong nhiệm vụ quân sự chiếm 70%, còn lại chủ yếu tập trung trong
ngành dầu khí, trong lĩnh vực nghiên cứu của các trường đại học và phòng thí
nghiệm. So với USV dùng trong quân sự thì nhiệm vụ của USV dân sự linh hoạt
hơn, có thể thực hiện các nhiệm vụ đa dạng hơn.
Về nhiệm vụ, hiện nay các loại nhiệm vụ chuyên
biệt của USV khá ít, chủ yếu tập trung vào nhiệm vụ trong các lĩnh vực an ninh
trên biển, tình báo trinh sát (ISR), chống thủy lôi và điều tra môi trường. Số
USV được đưa vào biên chế có thể thực hiện được 148 nhiệm vụ độc lập, được khái
quát thành 16 loại khác nhau. Gần 80% nhiệm vụ có thể quy về 5 loại là: thu
thập tình báo, thu thập môi trường vật lý biểu trưng, chống thủy lôi, an ninh
trên biển và làm phương tiện huấn luyện thử nghiệm. Các phương diện ứng dụng
khác vẫn đang để trống là: tác chiến điện tử, nghi binh quân sự, ISR trong môi
trường khắc nghiệt, bố trí sensor trong môi trường khắc nghiệt, trung chuyển
thông tin, rải mìn, tác chiến mặt nước và tiến công mục tiêu trên bộ.
Do hầu hết USV đòi hỏi phải
có khả năng nhận biết môi trường ở mức độ nhất định để tiện cho nhân viên hoặc
máy tính thao tác từ xa có thể đưa ra xử lý đối với môi trường, nên số lượng
USV làm nhiệm vụ "thu thập tình báo" là nhiều nhất. Ngoài ra, phần
lớn USV làm nhiệm vụ như thu thập môi trường vật lý biểu trưng là của ngành dân
sự, chủ yếu dùng để điều tra môi trường. Phần lớn USV làm nhiệm vụ chống thủy
lôi là các tàu USV quét lôi cảm ứng của các quốc gia châu Âu.
Về những nước nghiên cứu
chế tạo và sử dụng: Chủ yếu là Mỹ và đồng minh. Mỹ có đầy đủ ưu thế dẫn đầu
trong lĩnh vực này. Ngoài Hải quân Mỹ ra, USV được các nước khác sáng chế và sử
dụng có thể chia thành 2 loại: Một là USV bảo đảm an ninh biển và tiến hành tác
chiến ISR tiên tiến. Những nước đang nghiên cứu phát triển gồm Ixraen, Thụy
Điển, Xingapo, Italia và Anh. Những nước đã đưa USV vào sử dụng có Nigiênia,
Ixraen và Xingapo. Những USV này có thể thực hiện các nhiệm vụ như an ninh cảng
biển, điều tra lĩnh vực hải dương, chống khủng bố, chống ma túy, bảo vệ cơ sở
hạ tầng dầu khí. Loại thứ hai là USV cảm ứng rà phá mìn thuộc trang bị của hải
quân các nước châu Âu. Hiện nay hải quân các nước Đan Mạch, Thụy Điển, Đức và
Anh đã trang bị loại USV này.
Về kích
cỡ, thể tích của USV khá nhỏ. Những USV đang được nghiên cứu chế tạo hiện nay
cũng cho thấy đặc điểm mini hóa. Do tàu nhỏ có ưu điểm giá thành thấp, thử
nghiệm thuận lợi nên hiện nay có khoảng 60% USV đang được biên chế sử dụng có
độ dài 7 mét hoặc ngắn hơn. Độ dài của USV dùng vào công việc an ninh trên biển
thường từ 7 đến 11 mét, còn một số loại USV có thể tích lớn được dùng vào nhiệm
vụ có nhu cầu trọng tải lớn như cảm ứng rà phá mìn.