Việt Nam với Nghị định thư Kyoto và Thỏa thuận khí hậu Paris 2015
Việt Nam với Nghị định thư Kyoto và Thỏa
thuận khí hậu Paris 2015
Việt
Nam đã tham gia ký kết Nghị định thư Kyoto vào ngày 25/9/2002.
Việt
Nam đã hoàn thành việc hướng dẫn việc triển khai Cơ chế phát triển sạch (Clean
Development Mechanism - CDM). Trong khuôn khổ chương trình CDM, nếu Việt Nam giảm
được một lượng phát thải khí nhà kính thì sẽ được cấp giấy chứng nhận, gọi là
Giảm phát thải được xác nhận (The Certified Emissions Reductions - CERs). CERs
có thể dùng để bán như một thứ hàng hoá mới có giá trị và sẽ được bán cho các
quốc gia, các tổ chức nước ngoài có nhu cầu giảm phát thải khí nhà kính.
Việt
Nam đã rất thành công trong việc triển khai CDM. Thủ tướng Chính phủ đã ban
hành Quyết định số 130/2007/QĐ-TTg vào tháng 8 năm 2007 quy định một số cơ chế,
chính sách tài chính cho các dự án CDM. Việt Nam đứng thứ 4 trên thế giới về số
lượng dự án, với hơn 250 dự án CDM được Ban Điều hành CDM công nhận, nâng tổng
lượng cắt giảm khí nhà kính tiềm năng lên khoảng 137,4 triệu tấn CO2 tương
đương trong thời hạn tín chỉ. Việc giảm phát thải được Ban Điều hành CDM xác nhận
đã được tính toán là hơn 10 triệu tấn, đứng thứ 11 trên thế giới.
Việt
Nam đã tích lũy được rất nhiều kinh nghiệm trong việc kết hợp phát triển bền vững
và giảm phát thải thông qua việc cung cấp tín chỉ phát thải cho các nước công
nghiệp với giá cạnh tranh so với thị trường quốc tế. Tuy nhiên, trong năm năm
qua, CDM đã phải chịu ảnh hưởng do sự mất giá của tín chỉ phát thải bởi sự bất ổn
về chính sách khí hậu quốc tế trong tương lai và thiếu ý chí chính trị ở các nước
công nghiệp phát triển để theo đuổi các chính sách mạnh mẽ nhằm giảm nhẹ tác động
gây ra bởi biến đổi khí hậu. Vì vậy các nhà đầu tư nước ngoài cũng như khu vực
tư nhân trong nước đã cắt giảm các hoạt động theo cơ chế CDM.
Với
sự phục hồi của các cơ chế thị trường cac-bon theo Thoả thuận Paris, các cơ chế
này một lần nữa trở thành công cụ ngày càng phổ biến được sử dụng phục vụ cho
các nỗ lực giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu quốc tế và trong nước. Các cơ
chế này cũng giúp giảm chi phí để đạt được các mục tiêu phát thải quốc gia và tạo
ra các cơ hội kinh doanh cho khu vực tư nhân.
Việc
buôn bán CERs trong các dự án dựa trên cơ sở giảm phát thải theo cam kết của
Nghị Định thư Kyoto đã tăng lên nhanh chóng trong những năm vừa qua. Hiện nay,
các tổ chức cũng như các nước có nhu cầu mua CERs lớn nhất là Ngân hàng Thế giới,
các công ty của Nhật Bản, Hà Lan. Ngoài ra còn có một số nước Châu Âu cũng đang
trong quá trình xúc tiến các chương trình CDM trong những năm 2003-2004. Đây
cũng là một trong những thị trường có nhu cầu lớn về CERs. Kinh doanh buôn bán
các sản phẩm CERs là hình thức hoàn toàn mới trên thị trường. Hiện nay, giá của
CERs trên thị trường vào khoảng 4-6 USD/tấn CO2 tương đương.
Hiện
nay, Việt Nam đang là 1 trong 10 nước được đánh giá là có tiềm năng về CDM với
10 dự án CDM đăng ký. Tuy nhiên, đến nay mới chỉ có 1 dự án CDM đầu tiên trên
thế giới được thực hiện ở Brazil vào đầu tháng 12/2004.
Việt Nam thực hiện Thỏa thuận khí hậu
Paris 2015
Vietnam
là một quốc gia đã và đang tích cực tham gia, thực hiện các cam kết quốc tế về
biến đổi khí hậu, Việt Nam đã ban hành Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris,
trong đó tập trung vào việc thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định hướng
tới hoàn thành các mục tiêu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, thích ứng với biến
đổi khí hậu và tăng khả năng chống chịu của quốc gia.
Ngoài
ra, giai đoạn trước năm 2020, Việt Nam đã thực hiện các hành động giảm phát thải
khí nhà kính một cách tự nguyện để đạt mục tiêu trở thành một trong 10 nước đứng
đầu về thực hiện Cơ chế phát triển sạch CDM; Xây dựng và thực hiện các Dự án Hỗ
trợ các hành động giảm nhẹ biến đổi khí hậu phù hợp với điều kiện quốc gia
(NAMA) tại Việt Nam thành công như các dự án trong lĩnh vực xi măng; Thực hiện
dự án PMR và dự án cơ chế tín chỉ chung (JCM) để khởi động cơ chế thị trường
các-bon.
Ứng
phó với biến đổi khí hậu, thực hiện NDC đã trở thành hoạt động thường xuyên,
liên tục của quốc gia và đã được lồng ghép vào các hoạt động phát triển kinh tế
- xã hội của tất cả các cấp, các ngành, doanh nghiệp, cộng đồng và của từng người
dân Việt Nam.
Bên
cạnh đó, Việt Nam cũng đã khởi động tiến trình rà soát Đóng góp do quốc gia tự
quyết định theo yêu cầu tại COP21 và xây dựng Thông báo quốc gia lần thứ ba.
Những
nỗ lực không ngừng của Chính phủ Việt Nam được đồng hành cùng sự tham gia của
khối tư nhân và hỗ trợ của quốc tế, Việt Nam sẽ đặt ra lộ trình rõ ràng về ứng
phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam, góp phần vào nỗ lực ứng phó chung của toàn
cầu và Việt Nam mong muốn thúc đẩy hợp tác hơn nữa với cộng đồng quốc tế vì sự
thịnh vượng của con người và hành tinh chúng ta.
Kể
từ khi Thoả thuận Paris lịch sử được thông qua vào năm 2015, cộng đồng quốc đã
nỗ lực cùng nhau xây dựng Chương trình công tác thực hiện Thoả thuận Paris, tuy
nhiên, dự thảo này vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục được tháo gỡ.
Theo
đó, các cam kết toàn cầu trong khuôn khổ Công ước khung của Liên hợp quốc về biến
đổi khí hậu và Thoả thuận Paris cần được tăng cường, khẳng định rằng các cam kết
này là không đảo ngược và không đàm phán lại, không cố tình hiểu sai vì biến đổi
khí hậu là trách nhiệm toàn cầu.
Nội
dung của Chương trình công tác thực hiện Thỏa thuận Paris cần đảm bảo sự cân bằng
giữa thích ứng, giảm nhẹ và phương tiện thực hiện để đạt được các mục tiêu phát
triển bền vững mà còn phản ánh đầy đủ các quy tắc của Công ước Khí hậu. Trong
đó, Việt Nam cũng như các quốc gia đang phát triển khác một lần nữa nhấn mạnh sự
cần thiết phản ánh sự công bằng và quy tắc trách nhiệm chung nhưng có phân biệt
và khả năng tương ứng đã được nêu trong Công ước.
Đồng
thời, Đoàn Việt Nam cũng đề nghị các nước phát triển cần có cam kết mạnh mẽ, rõ
ràng trong việc cung cấp tài chính, chuyển giao công nghệ và tăng cường năng lực
để các nước đang phát triển thực hiện Thoả thuận Paris, đảm bảo thực hiện thành
Đóng góp do quốc gia tự quyết định bằng các hành động thực tế.
Để
triển khai thực hiện, Chương trình công tác thực hiện Thỏa thuận Paris phải đơn
giản và thuận lợi cho các bên thực hiện trong khi đảm bảo toàn vẹn môi trường,
minh bạch, có thể so sánh, nhất quán, đồng thời cần tránh tính trùng và cần được
xây dựng trên kinh nghiệm đã có, theo Thứ trưởng Lê Công Thành.
Cuối
cùng, nhằm thu hẹp khoảng trống về phát thải khí nhà kính các Bên cần tăng cường
thực hiện các hành động ứng phó với biến đổi khí hậu trước năm 2020. Để đạt được
mục tiêu đó, các quốc gia chưa phê chuẩn Sửa đổi Doha cần khẩn trương hoàn tất
thủ tục phê chuẩn. Thực hiện việc này sẽ củng cố lòng tin giữa các bên và tạo
đà thực hiện các hành động ứng phó với biến đổi khí hậu cho giai đoạn kể sau
năm 2020.