Hoàn thiện khung pháp lý về tiền ảo trong cách mạng công nghiệp 4.0 tại Việt Nam
Hoàn thiện khung pháp lý
về tiền ảo trong cách mạng công nghiệp 4.0 tại Việt Nam
Với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng công nghiệp lần
thứ tư, rất nhiều những thành tựu khoa học mới đã ra đời trong đó có “tiền điện
tử, tiền ảo”. Trên thế giới, có rất nhiều loại tiền mã hóa như Etheraum, Litecoin,
Bitcoin, Swisscoin, Zcash… Ở Việt Nam, việc giao dịch bằng tiền ảo cũng đang
diễn ra phổ biến với tính chất phức tạp. Việc sử dụng giao dịch tiền ảo đã để lại
những hậu quả khó lường, đặc biệt là ở thời đại mà cách mạng công nghệ số hóa
phát triển mạnh như hiện nay thì việc hoàn thiện khung pháp lý về tiền ảo là điều
vô cùng cần thiết.
1. Quy định của pháp luật
Việt Nam về tiền ảo
Thứ nhất, quy định của Bộ luật Dân sự về tiền ảo
Tiền ảo không phải là một loại tài sản, theo Điều
105 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có
giá và các quyền tài sản”, từ căn cứ trên thì tiền ảo không phải là tiền Việt
Nam vì nó không thỏa mãn các dấu hiệu để được xác định là tiền và không do Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam phát hành, bên cạnh đó, tiền ảo cũng không thuộc một
trong các loại giấy tờ có giá được quy định trong Nghị định của Thủ tướng
Chính phủ số 112/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm.
+ Đối với các giao dịch pháp lý liên quan đến tiền ảo, theo
quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì giao dịch dân sự nói chung
được xác lập phải thỏa mãn 03 điều kiện bắt buộc tại khoản 1 đó là “(i) Chủ thể
có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân
sự được xác lập; (ii) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
(iii) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm pháp luật, không
trái đạo đức xã hội”; Bên cạnh đó, đối với một số giao dịch dân sự còn phải thỏa
mãn về hình thức xác lập giao dịch được quy định tại khoản 2.
Căn cứ theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015
thì điều kiện có hiệu lực của giao dịch về tiền ảo được xác định: (i) Điều kiện
về năng lực pháp luật và năng lực về hành vi của chủ thể tham gia giao dịch;
(ii) Điều kiện về mục đích và nội dung của giao dịch liên quan đến tiền ảo;
(iii) Điều kiện về sự tự nguyện của các chủ thể xác lập giao dịch liên quan đến
tiền ảo; (iv) Điều kiện về hình thức của giao dịch liên quan đến tiền ảo.
Thứ hai, quy định của Luật Giao dịch điện tử năm 2005 về
tiền ảo
Giao dịch liên quan đến tiền ảo cũng là một trong các giao dịch
được xác lập và thực hiện thông qua phương thức điện tử, cụ thể là thông qua
môi trường kỹ thuật số, nên giao dịch điện tử liên quan đến tiền ảo cũng thuộc
phạm vi điều chỉnh của Luật Giao dịch điện tử. Theo Điều 9, khi liệt kê các
hành vi bị cấm thì không có khoản nào cấm xác lập giao dịch liên quan đến tiền ảo
thông qua phương tiện kỹ thuật số mà về cơ bản, giao dịch liên quan đến tiền ảo
là giao dịch được thực hiện thông qua các thông điệp điện tử.
Thứ ba, quy định của pháp luật tín dụng – ngân hàng về tiền ảo.
Tiền ảo không phải là một loại tiền và không phải là phương
tiện thanh toán hợp pháp tại Việt Nam. Tại khoản 6 Điều 4 Nghị định số
102/2012/NĐ-CP về thanh toán không dùng tiền mặt, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị
định số 80/2016/NĐ – CP về phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt sử dụng
trong giao dịch thanh toán, thì phương tiện thanh toán bao gồm: Séc, lệnh chi, ủy
nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng và các phương tiện thanh toán
khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Bên cạnh đó, khoản 7 Điều 4 Nghị định
này cũng quy định:Phương tiện thanh toán không hợp pháp là các phương tiện
thanh toán không thuộc quy định tại khoản 6 Điều này. Theo quy định trên, việc
sử dụng tiền ảo làm phương tiện thanh toán là bất hợp pháp tại Việt Nam, bởi tiền
ảo không phải là séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân
hàng…
Bên cạnh đó, tiền ảo cũng không phải là một trong các loại
ngoại hối theo quy định của pháp luật Việt Nam. Theo quy định tại điểm a, khoản
2 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 và điểm a khoản 1 Điều 4
Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005 thì: “Tiền ảo không phải là một trong các loại ngoại
hối”.
Thứ tư, quy định của pháp luật về Thuế về tiền ảo.
+ Quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân năm
2007, được sửa đổi, bổ sung năm 2012 và 2014 thì: Thu nhập từ hoạt động sản xuất,
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá
nhân có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật. Theo
các văn bản pháp luật trên, tiền ảo không được xác định là hàng hóa, dịch vụ
nên thu nhập có được từ việc kinh doanh tiền ảo không thuộc đối tượng chịu thế
theo Luật này.
+ Quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng năm 2008, sửa đổi,
bổ sung các năm 2013, 2014 và 2016, Điều 2 của Luật thì: Thuế giá trị gia tăng
được hiểu là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hành hóa dịch vụ phát sinh
trong quá trình sản xuất, lưu thông hoặc tiêu dùng. Do đó, bất cứ hoạt động sản
xuất, lưu thông hoặc tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ nào mà có phát sinh chênh lệch
tăng thêm so với giá ban đầu đều phải chịu thuế giá trị gia tăng. Nên, tiền ảo
không phải chịu thuế giá trị gia tăng và người kinh doanh tiền ảo cũng không phải
nộp thuế giá trị giá tăng theo quy định
của luật trên.
Quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008, sửa đổi,
bổ sung các năm 2013 và 2014. Tại Điều 3 quy định: (i) Thu nhập chịu thuế thu
nhập doanh nghiệp bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa,
dịch vụ; (2) Các thu nhập khác. Căn cứ theo quy định trên, tiền ảo không phải
là hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam nên thu nhập có được
từ kinh doanh tiền ảo không không thuộc thu nhập chịu thuế.
Thứ năm, quy định của Luật Phòng, chống rửa tiền về Tiền
ảo
Luật này quy định về các biện pháp phòng ngừa, phát hiện,
ngăn chặn, xử lý tổ chức, cá nhân có hành vi rửa tiền; trách nhiệm của cơ quan,
tổ chức, cá nhân trong phòng, chống rửa tiền; hợp tác quốc tế về phòng, chống rửa
tiền. Theo đó, rửa tiền được hiểu đó là hành vi của tổ chức, cá nhân nhằm hợp
pháp hóa nguồn gốc của tài sản do phạm tội mà có bao gồm: (i) Hành vi được quy
định trong Bộ luật Hình sự; (ii) Trợ giúp cho tổ chức, cá nhân có liên quan đến
tội phạm nhằm trốn tránh trách nhiệm pháp lý bằng việc hợp pháp hóa nguồn gốc
tài sản do phạm tội mà có; (iii) Chiếm hữu tài sản nếu tại thời điểm nhận tài sản
đã biết rõ tài sản đó do phạm tội mà có, nhằm hợp pháp hóa nguồn gốc tài sản.
Nên, cá nhân, tổ chức nào thực hiện các giao dịch liên quan đến tiền ảo nhằm mục
đích rửa tiền thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật này, kể cả khi Việt Nam chưa
công nhận và bảo hộ các loại tiền ảo mà cá nhân, tổ chức lợi dụng các giao dịch
liên quan đến tiền ảo để thực hiện mục đích rửa tiền cũng đều chịu trách nhiệm
theo quy định của Luật.
Bên cạnh đó, người thực hiện hành vi rửa tiền có thể bị xử phạt
vi phạm hành chính theo quy định tại các Điều từ Điều 39 đến Điều 46 Nghị định
số 96/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.
Mặt khác, người sử dụng các giao dịch liên quan đến tiền ảo
nhằm mục đích rửa tiền còn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về “Tội rửa tiền”
quy định tại Điều 324 Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm
2017.
Thứ sáu, quy định của Pháp luật hành chính về tiền ảo.
Tiền ảo không phải là một phương tiện thanh toán ở nước ta
nên các chủ thể sử dụng tiền ảo làm công cụ thanh toán sẽ bị coi sử dụng công cụ
thanh toán bất hợp pháp tại Việt Nam. Khi chủ thể vi quy định về sử dụng phương
tiện thanh toán sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm d khoản
6 Điều 27 Nghị định số 96/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 của Chính phủ về xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng; Trường hợp chủ thể thực
hiện các giao dịch tiền ảo nhằm mục đích rửa tiền thì sẽ bị xử phạt vi phạm
hành chính với mức xử phạt tương ứng với hành vi vi phạm theo quy định tại các
Điều, từ Điều 39 đến Điều 46 Nghị định số 96/2014/NĐ-CP.
Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước cũng đã nhiều lần khẳng định
Bitcoin và các loại tiền ảo tương tự khác không phải là phương tiện thanh toán
hợp pháp tại Việt Nam, nên ngày 21/07/2017 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã gửi
Công văn số 5747/NHNN-PC của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam gửi văn phòng chính phủ
trả lời về vấn đề tiền ảo: “Tiền ảo nói chung và Bitcoin, Litecoin nói riêng
không phải là tiền tệ và không phải là phương tiện thanh toán hợp pháp theo quy
định của pháp luật Việt Nam. Việc phát hành, cung ứng và sử dụng tiền ảo nói
chung và Bitcoin, Litecoin nói riêng (phương tiện thanh toán không hợp pháp)
làm tiền tệ hoặc phương tiện thanh toán là hành vi bị cấm. Chế tài xử lý hành
vi này đã được quy định tại Nghị định 96/2014/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng và Bộ luật Hình sự 2015 (đã
sửa đổi, bổ sung). Ngoài ra, về việc đầu tư vào tiền ảo, Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam đã cảnh báo nhiều lần việc đầu tư này tiềm ẩn rủi ro rất lớn cho nhà đầu
tư”.
Thứ bảy, Quy định của pháp luật hình sự về tiền ảo.
Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
quy định về trách nhiệm hình sự đối với hành vi sử dụng tiền ảo làm phương tiện
thanh toán tại Việt Nam như sau: (i) Phát hành, cung ứng, sử dụng phương tiện
thanh toán không hợp pháp có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Vi phạm
quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân
hàng” theo khoản 1 Điều 206; (ii) Theo quy định tại khoản 1 Điều 324 Bộ luật
Hình sự 2015 thì hành vi được coi là rửa tiền sẽ bị phạt tù từ 01 năm đến 05
năm gồm: Tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào giao dịch tài chính, ngân hàng
hoặc giao dịch khác nhằm che giấu nguồn gốc bất hợp pháp của tiền, tài sản do
mình phạm tội; Sử dụng tiền, tài sản do mình phạm tội mà có hoặc biết hay có cơ
sở để biết là do người khác thực hiện hành vi mà có vào việc tiến hành các hoạt
động kinh doanh hoặc hoạt động khác; Che dấu thông tin về nguồn gốc, bản chất
thực sự, vị trí, quá trình di chuyển hoặc quyền sở hữu đối với tiền, tài sản do
mình phạm tội mà có hoặc cản trở việc xác minh các thông tin đó; Thực hiện một
trong các hành vi quy định tại các mục trên tại khoản 1 Điều 324 đối với tiền,
tài sản biết là có được từ việc chuyển dịch, chuyển nhượng, chuyển đổi tiền,
tài sản do người khác thực hiện hành vi phạm tội mà có.
2. Kiến nghị hoàn thiện
khung pháp lý về tiền ảo
Thứ nhất, về khuôn khổ pháp lý của tiền ảo
thì các luật của nước ta như: Bộ Luật Dân sự năm 2015, Luật Ngân hàng Nhà nước,
Luật Các tổ chức tín dụng; Luật Phòng, chống rửa tiền, Luật Thuế giá trị gia
tăng, Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp, Luật thuế thu nhập cá nhân, Luật Giao dịch
điện tử…đều không có quy định về tiền ảo nhưng cũng không có quy định cụ thể cấm
đối với các giao dịch sử dụng tiền ảo. Vì vậy, Chính phủ nên nghiên cứu việc quản
lý, xử lý tiền ảo theo hướng cấm sử dụng giao dịch hàng hóa dưới bất cứ phương
thức nào như dưới dạng hàng hóa, dịch vụ hay dưới dạng là các phương tiện thanh
toán thông qua một văn bản pháp luật cụ thể để phù hợp với xu thế chung của
toàn thế giới cũng như đặc điểm tình hình của nước ta.
Thứ hai, Bitscoin và các loại tiền ảo khác
không phải là tiền tệ và cũng không phải là phương thức thanh toán tại Việt
Nam. Việc phát hành, cung ứng, sử dụng các loại tiền ảo trên là vi phạm pháp luật
của Việt Nam, vì vậy cũng nên quy định rõ một chế tài cụ thể, rõ ràng hơn
trong việc xử lý đối với các hành vi vi phạm này.